Vì sao nguyễn ái quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản

      159

Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước Nguyễn ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản Nội dung con đường cách mạng vô sản Việt Nam được Người nêu lên trong thời gian từ 1920 – 1927


Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (97.07 KB, 10 trang )


Đại học quốc gia Hà NộiĐại học khoa học xã hội và nhân vănKhoa lịch sử Môn: Lịch sử ĐảngĐề bài: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước Nguyễn ái Quốclại lựa chọn con đường cách mạng vô sản? Nội dung con đường cáchmạng vô sản Việt Nam được Người nêu lên trong thời gian từ 1920 –1927.1Những năm 20 của thế kỷ XX là những năm rất quan trọngtrong đời sống chính trị của đất nước, có thể gọi là những năm bản lềtrong lịch sử cận đại Việt Nam gắn chặt với tên tuổi của Nguyễn áiQuốc”. Đây là thời kỳ đánh dấu sự tìm ra con đường cứu nước đúngđắn của Người cho dân tộc Việt Nam và bắt đầu hướng dân tộc ViệtNam đi theo con đường đó - con đường cách mạng vô sản. Vậy tại saoNguyễn ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản trong quátrình tìm đường cứu nước và nội dung của con đường cách mạng vôsản (trong giai đoạn hoạt động 1920-1927) ra sao?Nguyễn ái Quốc (1890-1969) sinh ra trong một gia đình nhà nhogiàu truyền thống yêu nước, tại một vùng quê giàu tinh thần cáchmạng. ý chí quyết tâm tìm đường cứu nước của Người đã có từ rấtsớm.Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn ái Quốc đã biết đến con đườngcứu nước theo ý thức hệ phong kiến, hay theo tư tưởng dân chủ tư sảnvới hai khuynh hướng bạo động của Phan Bội Châu và ôn hoà củaPhan Châu Trinh, rồi sau này trên bước đường hoạt động đầy giankhổ ở nước ngoài (1911-1919), Người đã tiếp xúc với nhiều conđường, cách thức đấu tranh của các dân tộc thuộc địa khác hoặc củangay bản thân giai cấp công nhân, Đến năm 1920, Nguyễn ái Quốcbắt đầu biết đến và tiếp xúc với con đường cách mạng vô sản qua “Sơ


thảo luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đăngtrên báo Nhân Đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp. Saumột thời gian tìm hiểu, nghiên cứu con đường cách mạng vô sản,Nguyễn ái Quốc càng củng cố niềm tin của mình vào con đường cáchđó đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa. Từ đây, Ngườihoàn toàn tin và đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo cách mạngtháng Mười Nga. Cuối cùng, sau một quá trình nghiên cứu, tìm hiểunhiều con đường giải phóng dân tộc khác nhau: con đường theo ý2thức hệ phong kiến, ý thức hệ tư sản, ý thức hệ vô sản, Nguyễn áiQuốc quyết định chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dântộc Việt Nam. Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đường này là vì:Thứ nhất, đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, con đường cứunước của Việt Nam đi vào giai đoạn bế tắc. Những con đường cứunước mà Người biết đến từ rất sớm đều bị thất bại do nó có nhiều hạnchế, sai lầm lớn: con đường cứu nước theo ý thức hệ phong kiến đãthất bạị. Năm 1897, ngọn lửa Hương Sơn tắt, phong trào Cần Vươngthất bại chấm dứt thời kỳ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩphu mang đậm tư tưởng Nho giáo. Đến thế kỷ XX, cầm vũ khí đánhPháp tương đối quy mô chỉ còn có Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế. MàHoàng Hoa Thám thì không thể đề ra cho mình một phương lược nàomới, nếu thắng lợi cũng lại thực hiện tư tưởng “khôi phục Đại Nam ycựu” mang nặng cốt cách phong kiến. Trong khi lịch sử đã vượt quamức ấy rồi, yêu cầu chính trị bắt đầu rộng hơn, nước Việt Nam độclập trở lại không thể là một nước quân chủ chuyên chế nữa. “Xa xa,Nhật Bản đã duy tân, trở nên cường thịnh, gần hơn, trí giả TrungQuốc đang xôn xao bàn luận tư tưởng Âu Mỹ, tiếng dội đến ViệtNam”. Thất bại của phong trào này đầu thế kỷ XX chứng tỏ sự phásản của chủ nghĩa trung quân, sự thất bại hoàn toàn của nó trước cácnhiệm vụ lịch sử. Nguyễn Tất Thành xuất thân trong một gia đình nhà
Nho nhưng không bị ràng buộc bởi tư tưởng trung quân, kiên quyếtkhông lựa chọn con đường này vì nó không thể giải phóng dân tộcViệt Nam.Con đường cứu nước theo hệ ý thức tư sản cũng thể hiện sự bất lựctrước những nhiệm vụ lịch sử. Ngọn cờ tiên phong được “Duy tânhội” phất lên đó là vào đầu thế kỷ XX với tư tưởng: phải duy tân,không duy tân thì không quang phục được. Và chỉ có một con đườngduy tân sang Nhật học hỏi (Đông du) cũng chính là đi cầu viện. Điều3này không khác nào là “đuổi hùm cửa trước rước sói” cửa sau. Kếtquả là Phan Bội Châu nhận ra rằng: “đồng văn đồng chủng” khôngbằng “đồng bệnh”, tư tưởng chủng tộc lùi bước trước tư tưởng dântộc. Trái ngược với đường lối của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinhchủ trương cách mạng theo đường lối ôn hoà. Tư tưởng cốt lõi là “ỷPháp cầu tiến bộ”, dựa vào Pháp mà đi lên. Song dù có bạo động haybất bạo động, dù theo đường lối của Phan Bội Châu hay Phan ChâuTrinh thì kết quả cuối cùng đều bị thực dân Pháp phá hoại, bắt giamnhững người lãnh tụ hoặc tìm mọi cách ly khai họ ra khỏi phong tràovà lợi dụng tư tưởng của họ. Nhận thức được những sai lầm trong conđường cứu nước của cả hai khuynh hướng trên, Nguyễn ái Quốc đãkhông tham gia phong trào Đông du (1905) khi cụ Phan Bội Châumuốn đưa ông và một số thanh niên sang Nhật. Như vậy, dù rất kính trọng các bậc anh hùng tiền bối, nhưngNguyễn Tất Thành không bằng lòng với đường đi nước bước của họvà không muốn đi theo vết mòn lịch sử. Người không tán thành hoàntoàn cách làm của một người nào vì Người thấy rõ những hệ tư tưởngphong kiến hay tư sản mà họ dựa vào để chống thực dân Pháp đã trởnên lỗi thời, yếu kém hơn rất nhiều so với sự phát triển của chủ nghĩatư bản trong giai đoạn đó. Do đó Người không lựa chọn con đườngcứu nước của họ và tự quyết định con đường nên đi.

Bạn đang xem: Vì sao nguyễn ái quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản


Mặt khác, Người chọn con đường cách mạng vô sản còn vì tínhđúng đắn của nó đối với cách mạng một nước thuộc địa. Đây là conđường cách mạng duy nhất có khả năng giải phóng dân tộc Việt Nam,là con đường phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đầy khó khăn của cáchmạng nước ta khi đó. Tính đúng đắn phù hợp của nó được thể hiện rõnét qua nội dung con đường cách mạng mà Người đã nêu lên trongthời gian hoạt động từ 1920-1927. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trongcuộc đời hoạt động của Nguyễn ái Quốc là việc Người đọc được bản4“Sơ thảo luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lêninđăng trên báo Nhân đạo. Với sự kiện này, lần đầu tiên Nguyễn áiQuốc tìm thấy và đến với con đường cách mạng vô sản. Trên đườngđi tìm chân lý cho dân tộc, Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩaMác-Lênin từ một phương diện hết sức thực tế: chỉ có chủ nghĩa cộngsản, con đường cách mạng vô sản mới có thể chỉ ra con đường cứunước đúng đắn để giải phóng dân tộc và đồng thời thực hiện được bacuộc giải phóng vốn là ước mơ từ lâu của nhân loại là giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.Nếu như luận cương của Lênin làm cho Nguyễn ái Quốc hoàntoàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III, lựa chọn con đường cáchmạng vô sản thì một loạt những sự kiện chính trị sau đó đã góp phầncủng cố vững chắc thêm niềm tin ấy. Đó là việc đọc được điều thứ 8trong 21 điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản làm Nguyễn ái Quốcthật sự tâm đắc bởi vì nó khẳng định sự giúp đỡ, tinh thần đoàn kếtquốc tế của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc đối với các nướcthuộc địa và phụ thuộc: “Về vấn đề thuộc địa và dân tộc bị áp bức thìcác Đảng ở các nước của giai cấp tư sản có thuộc địa và áp bức cácdân tộc khác, phải có một đường lối đặc biệt rõ ràng minh bạch. Đảngnào muốn gia nhập Quốc tế III đều buộc phải thẳng tay vạch mặtnhững thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc nước mình ở các thuộc đại,
ủng hộ bằng thực tế chứ không bằng lời nói mọi phong trào giảiphóng ở thuộc địa, đòi hỏi phải trục xuất bọn đế quốc nước mình rakhỏi các thuộc địa ấy, gây trong công nhân nước mình thái độ anh emchân thành với nhân dân lao đọng các nước thuộc đại và các dân tộcbị áp bức và tiến hành tuyên truyền có hệ thống trong quân đội nướcmình chống mọi sự áp bức các dân tộc thuộc địa”. Mặt khác, trongĐại hội Quốc tế cộng sản và đại hội các dân tộc phương Đông đã đưara khẩu hiệu về tư tưởng cách mạng quốc tế, về mối quan hệ chặt chẽ5giữ giai cấp vô sản phương tây và các dân tộc phương Đông bị ápbức: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại. Nhưvậy, con đường cách mạng vô sản ở các thuộc địa không bị cô lập,luôn được ủng hộ, giúp sức. Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, tiêu chuẩn cao nhất chosự lựa chọn và định hướng của Người là kiên quyết đứng về phía họcthuyết và tổ chức cách mạng nào thực sự quan tâm đến quyền lợi vàcuộc sống của các dân tộc bị áp bức, bênh vực, ủng hộ và chỉ ra conđường đúng đắn để giải phóng dân tộc. Tiêu chuẩn hết sức thiết thựcđó đối với sự nghiệp giải phóng một nước thuộc địa lại phù hợp vớiđường lối của cách mạng vô sản - là con đường cách mạng do giai cấpvô sản lãnh đạo, nhằm dùng bạo lực cách mạng lật đổ ách thống trịcủa giai cấp tư sản, lập nên chế độ xã hội chủ nghĩa- và cuối cùngngười thanh niên yêu nước Việt Nam ấy quyết định chọn con đườngcách mạng vô sản cho dân tộc mình đi theo. Mặt khác, con đường cách mạng vô sản đã có tiền lệ, đã trởthành hiện thực ở nước Nga và để lại nhiều bài học kinh nghiệm.Chính con đường cách mạng vô sản đã đưa đến thắng lợi vang dội củaCách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đánh đổ chủ nghĩa tư bản ởnước Nga. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng thế giới, thành quảcách mạng đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên nắm
chính quyền. Con đường cách mạng ấy không là lý thuyết chungchung mà đã trở thành hiện thực ở nước Nga rộng lớn thì ai dám chắcnó không có cơ hội thành công ở một nước thuộc địa trong đó có ViệtNam. Vì vậy, Ngyễn ái Quốc đã lựa chọn con đường cách mạng vôsản.Như vậy, sự thất bại của phong trào đấu tranh chống thực dânPháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời của hệtư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của hệ tư tưởng tư sản. Điều6này đặt ra yêu cầu lịch sử là phải tìm ra con đường cứu nước mớiđúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Và trong quá trình tìmđường cứu nước, Nguyễn ái Quốc thấy rằng: chỉ có cách mạng vô sản,chỉ có chủ nghĩa Mác- Lênin mới có khả năng giải phóng dân tộc ta,chỉ có Quốc tế cộng sản mới thực sự quan tâm đến vấn đề giải phóngcác dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Vì vậy Người đã rất vui sướng khilần đầu tiên bắt gặp con đường cứu nước ấy: “Tôi vui mừng đến phátkhóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nóitrước quần chúng đông đảo “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ. Đây làcái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta. Từđó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Thực tế lịchsử Việt Nam sau này đã chứng minh sự lựa chọn ấy là hoàn toàn đúngđắn, sáng suốt với biểu hiện là sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam,với thắng lợi của cách mạng tháng Tám (1945), Sau khi khẳng định con đường cách mạng Việt Nam lựa chọnlà con đương cách mạng vô sản, Nguyễn ái Quốc đã tích cực nghiêncứu, xây dựng một con đường cách mạng vô sản cho phù hợp vớihoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Vì vậy, có thể khẳng định con đườngcách mạng vô sản ở nước ta là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ năm 1921-1927 hệ thống quanđiểm cách mạng và lý luận của Người về cách mạng giải phóng các
dân tộc thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng được thể hiện kháhoàn chỉnh qua những bài tham luận, báo cáo, tác phẩm, bài viết trênbáo chí, và đặc biệt nó được đúc rút, tổng kết sâu sắc nhất qua tácphẩm “Đường cách mệnh”(1927). Nội dung con đường cách mạngViệt Nam được thể hiện cụ thể như sau:Thứ nhất: Đi sâu vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thựcdân nhưng nguỵ trang bằng cái gọi là “khai hoá văn minh”. Chủ nghĩathực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công7nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp, nguy hạinhất của nhân dân các nứơc thuộc địa. Người đã khơi dậy mạnh mẽtinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần phản kháng dân tộc, kêu gọinhân dân các nước thuộc địa phải dựa vào lực lượng của bản thânmình, phải tự mình đứng lên giải phóng cho mình. “Công cuộc giảiphóng anh em (ở các thuộc địa) chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗlực của bản thân anh em”Thứ hai: Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cáchmạng của thời đại - cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắnliền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp côngnhân. “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dântộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩacộng sản và cách mạng thế giới. Vì vậy, phải tiến hành cách mạngmột cách triệt để”.Thứ ba: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa vàcách mạng vô sản ở “chính quốc” có quan hệ khăng khít với nhau nhưhai cái cánh của thời đại, luôn phải thực hiện khẩu hiệu của Lênin: vôsản toàn thế giới liên hiệp lại. Điều đặc biệt quan trọng là Nguyễn áiQuốc đã nêu rõ cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào mạng vôsản ở “chính quốc” mà có tính chủ động, độc lập. Cách mạng thuộcđịa có thể thành công trước cách mạng ở “chính quốc” và góp phần
thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đây là một quan điểm cáchmạng độc lập, sáng tạo của Người.Thứ tư là về đường lối cách mạng: Tư tưởng về đường lối chiếnlược của cách mạng ở thuộc địa là tiến hành cách mạng giải phóngdân tộc rồi tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Song nhiệm vụ trướcmắt và quan trọng hàng đầu là hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của“dân tộc cách mệnh” đánh đổ đế quốc và bọn phong kiến tay sai,giành độc lập dân tộc.8Thứ năm là về giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng: Giảiphóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việccủa vài người. Tuy nhiên, trong đó “công - nông là người chủ cáchmệnh”, “là gốc cách mệnh”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủcũng bị tư bản áp bức song không cực khổ bằng công-nông, ba hạngấy chỉ là bầu bạn cách mạng của công-nông thôi”. Đây là một nhậnthức sáng suốt, một chủ trương đúng đắn, không phải người macxítnào thời đó cũng quan niệm được rõ ràng như vậy.Thứ sáu là về đoàn kết quốc tế: Đi đôi với đại đoàn kết dân tộc,cách mạng Việt Nam phải thực hiện đoàn kết quốc tế. “Cách mạng AnNam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cáchmạng thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. “Dân An Nam làđương lúc tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa phải cần anh em trongthế giới giúp giùm”. Tuy nhiên, không được ỷ lại vì đây là cuộc cáchmạng của chúng ta, vì chúng ta: “muốn người ta giúp cho thì trướcmình phải tự giúp lấy mình đã ”.Thứ bảy là về phương pháp cách mạng: quần chúng phải đượcgiác ngộ và được tổ chức mới tạo nên sức mạng của cách mạng. Phảitiến hành triệt để phương pháp bạo lực cách mạng mà trước hết là bạolực chính trị của quần chúng: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súngống nào cũng chống lại”. Kiên quyết phê phán cách làm: xúi giục bạo
động mà không bày cách tổ chức hoặc làm cho dân quen tính ỷ lại, màquên tính tự cường, hay các phương pháp ám sát, cải lương.Cuối cùng là về công tác xây dựng Đảng: được đặt lên hàngđầu. Cách mạng muốn thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách mạng,“Đảng có vững cách mạng mới thành công Đảng muốn vững thì phảicó chủ nghĩa làm cốt Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như ngườikhông có trí khôn”. Chủ nghĩa đó chính là chủ nghĩa Mác-Lênin:“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân9chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.Đảng vững là nhờ ở chủ nghĩa, đồng thời còn ở phẩm chất chính trịcủa mỗi Đảng viên, phải đẩy mạnh xây công tác xây dựng Đảng viêncả về số lượng và chất lượng. Phẩm chất được đặc biệt nhấn mạnhđối với mỗi Đảng viên phải là phải “giữ chủ nghĩa cho vững, hi sinh,ít lòng ham muốn về vật chất ”.Trên đây chính là lý do tại sao Nguyễn ái Quốc trong quá trìnhđi tìm đường cứu nước lại chọn con đường cách mạng vô sản và nộidung cơ bản của con đường cách mạng vô sản trong thời gian hoạtđộng của Người từ 1920-1927. Nội dung con đường cách mạng vô sảnmà Người xây dựng được trong thời gian này đã trở thành tư tưởngchỉ đạo, xuyên suốt con đường cách mạng Việt Nam sau này. Và thựctế lịch sử cách mạng Việt Nam sau đó đã chứng minh cho sự lựa chonđúng đắn và sáng suốt của Người. Đây không chỉ là con đường cáchmạng Việt Nam mà nó còn rất phù hợp với con đường cách mạng giảiphóng cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc nói chung. Vì vậy, nóđược phong trào cách mạng một số nước thuộc địa và phụ thuộc họctập và noi theo.10


Một số hình ảnh


Tầm nhìn thời đại và tư duy độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Với tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Một hành trình cứu nước qua ba đại dương, bốn châu lục và gần ba mươi quốc gia trong khoảng thời gian ba mươi năm là một hành trình đầy gian khổ nhưng càng cho thấy tấm lòng yêu nước cao cả, thương dân vô bờ bến cùng ý chí kiên cường, bất khuất và đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo của một bậc đại chí, đại nhân, đại dũng trong công cuộc giải phóng dân tộc.


Nhân tố thôi thúc quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Truyền thống gia đình, đặc biệt là nhân cách và những tư tưởng tiến bộ của cụ thân sinh Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc chính là cội nguồn cho chí hướng cách mạng và hoài bão ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trên quê hương Nghệ An giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Không chỉ giàu truyền thống hiếu học, cần cù trong lao động, trọng tình nghĩa trong cuộc sống, người dân nơi đây còn giàu truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm với nhiều tấm gương lưu sử sách, như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Xuân Hành, Nguyễn Sinh Quyết... Chính truyền thống yêu nước tốt đẹp của quê hương, của dân tộc là nền tảng để Nguyễn Tất Thành sau này đã gặp gỡ và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tinh hoa tư tưởng, văn hóa của nhân loại, một học thuyết khoa học, cách mạng triệt để nhất, qua đó thể hiện tầm nhìn rộng mở mang tính thời đại của Người trong hành trình đi tìm đường cứu nước.


*

Những tư tưởng tiến bộ của các thầy giáo, các bậc sĩ phu yêu nước đã tiếp thêm sức mạnh và thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Nhờ những ảnh hưởng của các thầy giáo tân học và những trang sách báo tiến bộ mà ý muốn sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại đã từng bước lớn dần lên trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành.Thực tiễn Việt Nam khi đó là nhân tố tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.

Vào giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chính sách thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam là chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa. Dưới ách thống trị và bóc lột của thực dân Pháp, Việt Nam từ một chế độ phong kiến độc lập chuyển thành chế độ thuộc địa, mất hẳn chủ quyền, phụ thuộc vào thực dân Pháp; kinh tế bị kìm hãm nặng nề, mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng và gay gắt; người dân lâm vào cảnh đói nghèo, khổ ải, lầm than. Thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của đất nước; bọn quan lại đặt ra đủ các thứ thuế, bọn hào lý thì tham nhũng vô độ, bóc lột nhân dân không thương tiếc. Trước tình hình chính trị - xã hội như vậy, nhiều phong trào đấu tranh yêu nước nổ ra, như phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ (1861 - 1868), phong trào Cần Vương ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ (1885 - 1895), khởi nghĩa Yên Thế ở Bắc Kỳ (1885 - 1913)…, nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man và bị thất bại. Đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới, tiến hành cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản…, nhưng cũng không thành công. Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối.


Tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình và quê hương, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước nhưng không tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối và chính điều nàyđã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc. Và cũng chính lòng yêu nước vô bờ bến ấy là cội nguồn sức mạnh giúp Người vượt qua mọi khó khăn nơi đất khách quê người để tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Tầm nhìn thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước

Với tầm nhìn rộng mở, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế xuất sắc, tìm thấy con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Quyết định sang Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ tầm nhìn rộng mở, sẵn sàng tìm hiểu và học hỏi thế giới phương Tây, tiếp xúc, tiếp thu nền văn minh, tinh hoa trí tuệ của nhân loại.Người tham gia nhiều sự kiện lớn của thế giới, ủng hộ các cuộc cách mạng xã hội, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc và tham gia các buổi diễn thuyết của nhiều nhà chính trị và triết học; tiếp xúc văn hóa và các danh nhân văn hóa, chính trị của Pháp, tiếp xúc với những tư tưởng nhân đạo, nhân văn qua văn học Pháp, Nga, Anh, Mỹ,… Tại Pa-ri (lúc này được coi là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”), Người đã có một bước phát triển mới trong nhận thức về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc khi tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917.Từ năm 1911 đến năm 1920, bằng việc khảo cứu các nước thuộc địa và các nước tư bản lớn, như Mỹ, Anh, Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận thức quan trọng trong việc tìm kiếm con đường giải phóng và mô hình thể chế chính trị tương lai cho đất nước. Ngay từ thời niên thiếu, Người đã bộc lộ những phẩm chất giàu lòng nhân ái, ham hiểu biết, có hoài bão lớn, có chí cứu nước,…; những phẩm chất đó đã được rèn luyện và phát huy trong quá trình hoạt động cách mạng của Người. Nhờ vậy, giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, Người đã phân tích, lựa chọn để cuối cùng đi tới chân lý: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(1).

Cuối năm 1917, mặc dù vừa hoạt động chính trị, vừa phải kiếm sống một cách chật vật, nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn lạc quan, say sưa học tập, nghiên cứu Cách mạng Mỹ (năm 1776), Cách mạng Pháp (năm 1789), Cách mạng Nga (năm 1917). Người rút ra kết luận rằng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Tháng 7-1920, Người sung sướng khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”của V.I. Lê-nin. Luận cương đã mở ra cánh cửa để Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và cách mạng vô sản.

Xem thêm: Hành Vi Hành Chính Là Gì - Phân Biệt Hành Vi Hành Chính Để Dễ Khởi Kiện

Cuối năm 1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp, với việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và là một trong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, Người khẳng định sự lựa chọn dứt khoát, đứng hẳn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Quốc tế Cộng sản.


*

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, năm 1920_Ảnh: Tư liệu

Với tầm nhìn thời đại, Người đã làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuộc tìm kiếm con đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện tầm nhìn thời đại trong việc xác lập, kiến tạo mô hình xã hội gắn với các thiết chế hiện đại. Người đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ các nước lớn của phương Tây, như Mỹ, Anh, Pháp để tạo nênmô hình thể chế chính trị tương lai cho đất nước. Đó là mô hình Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa là mô hình nhà nước mà ở đó, quyền lực thuộc về nhân dân, một thể chế chính trị - xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình thể chế đó là động lực, là ngọn cờ thôi thúc toàn thể dân tộc Việt Nam vùng lên làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xác lập một thể chế chính trị - xã hội mới, vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân quyền và dân sinh, tự do, hạnh phúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam với xu thế thời đại, theo quy luật khách quan của lịch sử. Độc lập dân tộc phải đi đôi với tự do và hạnh phúc của nhân dân và gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội đáp ứng ngày càng cao và toàn diện mọi nhu cầu chính đáng, hợp pháp của người dân; là xã hội do quần chúng nhân dân xây dựng nên, vì vậy, mang tính tập thể, cộng đồng sâu sắc. Những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc đã thể hiện phẩm chất của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, mở ra thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Tư duy độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc giải phóng dân tộc


Ngay từ khi sống tại Pháp và sang nước Anh, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu rất nhiều nền văn hóa, hấp thụ những tư tưởng dân chủ; từ đó, hình thành phong cách dân chủ từ thực tiễn cuộc sống. Tại nơi đất khách, Người học được cách làm việc dân chủ ngay trong sinh hoạt khoa học của Câu lạc bộ Phô-bua, trong sinh hoạt chính trị của Đảng Xã hội Pháp. Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp (M. Cachin, P.V. Couturier, G. Monmousseau,..), Nguyễn Ái Quốc đã từng bước trưởng thành, làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, cả văn hóa phương Đông và phương Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trong 10 năm đầu (1911 - 1920) của quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thiện vốn văn hóa, chính trị và thực tiễn phong phú, tạo thành một bản lĩnh trí tuệ, nâng cao khả năng độc lập, tự chủ, sáng tạo ở Người, khi tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đối với một đất nước thuộc địa, một dân tộc bị áp bức, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(2). Cuộc cách mạng vô sản ở đây không chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp, mà còn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, một phạm trù của cách mạng vô sản.Chánh cương vắn tắt của Đảng(năm 1930), do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, đã khẳng định: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(3). Làm tư sản dân quyền cách mạng đánh đổ thực dân Pháp xâm lược đem lại độc lập dân tộc. Làm thổ địa cách mạng là đánh đổ bọn phong kiến, địa chủ đem lại ruộng đất cho dân cày (sau này, cả hai cuộc cách mạng cùng tiến hành song song ấy được gọi là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân). Đây là điều hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng không ngừng, lý luận về thời cơ và tình thế cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận về vấn đề xây dựng đảng cầm quyền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuầnđạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Người cũng đã vận dụng sáng tạo lý luận về nhà nước vô sản vào tình hình cách mạng Việt Nam, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(6). Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái - trai, giàu - nghèo, giai cấp. Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân không phải nhà nước “siêu giai cấp”, mà là nhà nước do Đảng Cộng sản - đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.